CXN_072718_13 663_ Những gì xảy ra ở VN từ 10 năm trở lại là y xì những gì các QG như Phi, Indo, Thái, mã lai đã từng trải qua năm 1997. Lần này họ ứng xử rất bài bản nên họ gần như thoát nạn tính tới bây giờ (khởi đầu cuộc chiến thương mại Mỹ Trung). Xa hơn nữa thì chưa t hấy, chưa biết tùy theo cách hành xử và khả năng chống đở tài chính của họ. Còn VN thì đã m inh chứng là hết khả năng bảo vệ vnd rồi, phá giá là tất yếu dẫn đến lạm phát phi mã cộn g thêm lạm phát kỳ vọng vào in tiền. Rồi lại phải tăng lãi suất để chống lạm phát thì dẫ n đến tình trạng 3D năm 2011, suy trầm từ 2011-2015, lần này thì sẽ nặng hơn và dài hơn. Giữ b ài này tới cuối năm xem tôi có đúng thêm 1 lần nữa hay không. CSVN ko còn DNNN nào để bán mà thu tiền về, bán TPCP thì tới giới hạn

CXN_072718_13 663_ Những gì xảy ra ở VN từ 10 năm trở lại là y xì những gì các QG như Phi, Indo, Thái, mã lai đã từng trải qua năm 1997. Lần này họ ứng xử rất bài bản nên họ gần như thoát nạn tính tới bây giờ (khởi đầu cuộc chiến thương mại Mỹ Trung). Xa hơn nữa thì chưa thấy, chưa biết tùy theo cách hành xử và khả năng chống đở tài chính của họ. Còn VN thì đã minh chứng là hết khả năng bảo vệ vnd rồi, phá giá là tất yếu dẫn đến lạm phát phi mã cộng thêm lạm phát kỳ vọng vào in tiền. Rồi lại phải tăng lãi suất để chống lạm phát thì dẫn đến tình trạng 3D năm 2011, suy trầm từ 2011-2015, lần này thì sẽ nặng hơn và dài hơn. Giữ bài này tới cuối năm xem tôi có đúng thêm 1 lần nữa hay không. CSVN ko còn DNNN nào để bán mà thu tiền về, bán TPCP thì tới giới hạn 200k tỷ/năm rồi … Vậy chỉ còn một lối thoát dễ nhất là in tiền và in tiền kiểu Năm Cam tức là in thật nhiều tiền rồi lại lạm phát, tỷ giá tăng v.v. và v.v… (financial crisis in 1997, wrong forcast by stock brokers, stop selling usd due to lack of reserves, detering IPO, jumped .2k to 23.3 bank@23.7.18, 23.35k@14.7, 23.22k, low inter bank rates put further pressure on exchange, calling for hoarding usd since exchange becomes 22 900 vnd, stable exchange but pressure on inflation, printing money and import tax increase on steel and aluminium, instructed to increase credit growth, electricity and petrol taxes to increase, CPI’s, the final collapse, power of corruption, cronies, system crumple, the economy is ceasing to operate, bế tắc KT, bell tolled)

: Khủng hoảng tài chính 1997 Nhà đầu tư kỳ cựu cảnh báo làn sóng vỡ nợ trên thị trường mới nổi, lặp lại kịch bản khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Châu Xuân Nguyễn
xx
Đọc một phần cúa link này thì thấy tình hình KT của VN y xì như Mã lai, Indo, Thái, Phillipines … hậu quả là chính phủ Suharto của Indo sụp đổ, CP Marcos của Phi sụp, CP Thái cũng mất chức, hình như CP Mã lai mahatir cũng văng

xx
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_ch%C3%A2u_%C3%81_1997
xx
Trích link :"

Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình trung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế.

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.[1]

Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông Á".[2] Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là do kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao động. Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức độ rất nhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên. Krugman cho rằng việc chỉ tăng trưởng năng suất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn, đã có thể mang lại sự thịnh vượng dài hạn. Krugman có thể được nhiều người coi như một nhà tiên tri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính ông ta cũng đã từng phát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng hoặc nhìn trước được chiều sâu của nó.

Các dòng vốn nước ngoài kéo vào

Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức. Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á.[3]

Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịchrủi ro đạo đức.)

Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt

Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á.

Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á.[4] Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra.[5]

Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu kém. Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.

Ngoại trưởng 9 nước ASEAN (khi đó chưa có Campuchia) lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này.[6] Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới. Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chínhAPEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vayCơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp. Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ.

Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.[7] ..

Diễn biến

Thái Lan

Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9%. Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi.

Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar.

Philippines

Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24%. Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng.

Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada. Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá.

Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống.

Hong Kong

Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ. Đồng tiền này vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ. Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công. Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình. Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%. Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%. Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu. Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ. Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán. Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ).

Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga.

Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8: 1.

Hàn Quốc

Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn. Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá. Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4%. Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ.

Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD.

Malaysia

Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh. Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar. Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai. Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.[8]

Indonesia

Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12%. Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn. Đồng Rupiah liên tục mất giá. IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt. Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử.

Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên. Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt.

Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên. Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị. Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống.

Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000: 1. Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000: 1.

Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảm đi.

Hậu quả

Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan.

Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George SorosQuỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu.

Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi. Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD.

Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Ngakhủng hoảng tài chính Brasil. Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm."(HT)

xxxxxxx

xxx
http://cafef.vn/nha-dau-tu-ky-cuu-canh-bao-lan-song-vo-no-tren-thi-truong-moi-noi-lap-lai-kich-ban-khung-hoang-tai-chinh-chau-a-1997-20180725125110506.chn
xx
Nhà đầu tư kỳ cựu cảnh báo làn sóng vỡ nợ trên thị trường mới nổi, lặp lại kịch bản khủng hoảng tài chính châu Á 1997

25-07-2018 – 12:51 PM | Tài chính quốc tế

Chia sẻ 29

Nhà đầu tư kỳ cựu cảnh báo làn sóng vỡ nợ trên thị trường mới nổi, lặp lại kịch bản khủng hoảng tài chính châu Á 1997
Tỷ lệ vỡ nợ trên các thị trường mới nổi sẽ tăng vọt trong năm tới do chương trình nới lỏng tiền tệ đã được các NHTW duy trì gần 1 thập kỷ qua đi tới hồi kết.

Abdul Kadir Hussain – nhà đầu tư kỳ cựu trên thị trường trái phiếu – đang nhìn thấy những điểm tương đồng đáng lo ngại giữa cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 và thực trạng hiện nay của các thị trường mới nổi.

Theo người đứng đầu bộ phận trái phiếu của Arqaam Capital (1 ngân hàng đầu tư có trụ sở tại Dubai), tỷ lệ vỡ nợ trên các thị trường mới nổi sẽ tăng vọt trong năm tới do chương trình nới lỏng tiền tệ đã được các NHTW duy trì gần 1 thập kỷ qua đi tới hồi kết. Các công ty yếu hơn sẽ bị ảnh hưởng mạnh nhất.

Nắm trong tay lượng tiền mặt dồi dào và ham lợi suất cao, nhiều nhà đầu tư đã háo hức mua trái phiếu trên các thị trường mới nổi – thứ tài sản mà họ có thể sẽ rất e ngại trong điều kiện thị trường bình thường, tạo ra một "cuộc chè chén say sưa" với tỷ lệ vay nợ kỷ lục. Tuy nhiên làn sóng này đang bắt đầu đảo ngược, các nhà đầu tư đang bắt đầu lựa chọn kỹ càng hơn.

"5 năm vừa qua, với thanh khoản khá lỏng lẻo, chúng ta có rất nhiều thương vụ được tài trợ trong khi điều đó sẽ không xảy ra trong 1 thị trường có tính kỷ luật cao hơn", Hussain nói. "Năm 2019 và có thể là 2020, tỷ lệ vỡ nợ ở thị trường mới nổi sẽ tăng lên, đặc biệt là ở những thị trường yếu hơn".

Điều này gợi nhớ đến khủng hoảng tài chính châu Á, khi các công ty vỡ nợ, chết chìm trong hàng tỷ USD nợ sau khi một loạt đồng tiền châu Á sụp đổ vì Thái Lan phá giá đồng baht. Trước đó các công ty đã ồ ạt vay nợ bằng đồng USD để tận dụng mức lãi suất thấp, trong khi doanh thu của họ phần lớn là bằng đồng nội tệ.

Hussain đã chứng kiến cuộc khủng hoảng đó từ đầu đến cuối. Năm 1997, ông chuyển từ Mỹ sang Singapore để gia nhập Peregrine Investments Holdings, giữ chức trưởng bộ phận nghiên cứu tín dụng khu vực Đông Nam Á. Hussain phải dành phần lớn thời gian để tái cấu trúc khoản vay 269 triệu USD mà ngân hàng đã giải ngân cho PT Steady Safe, 1 công ty taxi có trụ sở ở Jakarta. Công ty này đã không thể hoàn trả số tiền cho Peregrine khi đồng rupiah đổ sụp, khiến ngân hàng phải đóng cửa năm 1998 và được BNP Paribas mua lại.

"Dường như mọi người đã quên mất quá khứ", Hussain – người sau đó đã trở thành lãnh đạo ở Credit Suisse trước khi chuyển tới Dubai năm 2006 – nói.

Kể từ đầu năm đến nay, chính phủ và doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đã bán ra tổng cộng 1.100 tỷ USD trái phiếu. Năm 2017 số vốn họ huy động được qua kênh này chạm mốc kỷ lục 2.000 tỷ USD. Vì Mỹ, Nhật Bản và châu Âu liên tục giữ lãi suất ở mức gần 0 để hồi phục nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính 2008, các nhà đầu tư đã đổ xô đến các thị trường mới nổi để tìm kiếm mức lợi suất cao hơn.

Theo Hussain, các công ty ở Trung Quốc và châu Mỹ Latinh sẽ dẫn đầu làn sóng vỡ nợ. Các cuộc khủng hoảng ở Indonesia, Nga và Argentina đã dẫn đến tỷ lệ vỡ nợ kỷ lục ở các nước đang phát triển trong giai đoạn 1999 – 2003.

Báo cáo của Moody’s hồi tháng 3 cho thấy tỷ lệ vỡ nợ trung bình tại các thị trường mới nổi trong thời kỳ này là 8,9%. Báo cáo cũng cho biết tiền tệ biến động mạnh thường là một trong những yếu tố châm ngòi cho làn sóng vỡ nợ ở các thị trường mới nổi.

Xu hướng giảm giá của các đồng tiền mới nổi trong thời gian gần đây khiến chi phí tài trợ nợ nước ngoài của các nước đang phát triển tăng lên. Chỉ số MSCI Emerging Markets Currency Index đã giảm gần 4% kể từ đầu năm đến nay do triển vọng Mỹ tăng lãi suất khiến USD tăng giá và nguy cơ chiến tranh thương mại làm giảm nhu cầu về tài sản rủi ro.

"Khi thanh khoản bị rút khỏi thị trường và nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, bạn sẽ nhìn thấy sự đối lập rõ ràng. Kẻ yếu thì càng yếu hơn và kẻ mạnh thì càng mạnh lên", Hussain nói.

3 nhân vật chủ chốt trong khủng hoảng 2008 đồng loạt cảnh báo về cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất từ trước đến nay

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

Tin liên quan

Post Comment

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com