Vì sao ta lại đánh Mỹ? (trích tiểu thuyết bi hài “Cò hồn Xã nghĩa” của nhà văn Bà Đ ầm Xòe Phạm Thành)

https://nhanquyenchovn.blogspot.com.au/2018/02/vi-sao-ta-lai-anh-my-nha-van-ba-am-xoe.html

xxx

Monday, February 26, 2018

Vì sao ta lại đánh Mỹ?
(trích tiểu thuyết bi hài “Cò hồn Xã nghĩa” của nhà văn Bà Đầm Xòe Phạm Thành)
Bà Đầm Xòe
25/02/2018
https://badamxoevietnam2.wordpress.com/2018/02/25/vi-sao-ta-lai-danh-my-trich-tieu-thuyet-bi-hai-co-hon-xa-nghia-cua-nha-van-ba-dam-xoe-pham-thanh/

https://badamxoevietnam2.files.wordpress.com/2018/02/co-hon-xa-nghia-cover-final-21.jpg?w=450&h=309
Hình bìa tiểu thuyết “Cò hồn Xã nghĩa”

““Dù sao thì Đản Duẩn, Đản Chinh, Đản Linh, Đản Mười cũng là người tài, anh minh nhất đất nước ta, đúng không cụ”.

“Tài gì?” đảng trưởng Hò Văn Đản như cáu lại tôi. “Không có tớ thì có mà tài ăn vụng, liếm đít hết. Cậu tưởng đánh nhau với Pháp, Mỹ là chuyện đi dong chơi đánh dậm, gánh phân à? Nó có vũ khí hiện đại. Đánh nhau với nó là đánh nhau với vũ khí hiện đại. Mình không có vũ khí hiện đại chọi lại, thắng nó thế chó nào được nó. Có người dám hy sinh đánh nhau với nó nhưng không có súng đạn thì chỉ có đầu hàng. Cơm ăn có thế thiếu, nhưng lại không thể thiếu súng đạn là vì thế. Tài gì mấy thằng đó. Tớ hỏi cậu nhé: “Cậu có biết vì sao ta thắng được đế quốc Mỹ không?”.

Tôi như một học sinh ngoan trả lời cụ:
“Thưa cụ, vì ta có chính nghĩa, nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, dân tộc ta có ý chí sắt thép, có nhận thức vĩ đại: Không có gì quý hơn độc lập tự do, lại khôn ngoan: Bám thắt lưng địch mà đánh. Đánh, còn cái lai quần cũng đánh”.

Đảng trưởng Hò Văn Đản ngắt lời tôi:
“Thôi, thôi, thôi, cậu ơi! Ta thắng được Mỹ là do các đồng chí ở bên Quốc Cộng, Xô Liên tin tớ. Họ chính thức nói với tớ thế này: Đồng chí quyết tâm đánh Mỹ, mười năm, hai mươi năm, thậm chí đến người Việt Nam cuối cùng. Thiếu gì thì thiếu, chúng tôi nhất quyết không để cho các đồng chí thiếu súng, thiếu đạn”

Bất ngờ đảng trưởng Hò Văn Đản nheo nheo mí mắt liếc qua mặt tôi, giọng rất thân tình:
“Các đồng chí bên ấy, họ chiều mình lắm. Khi sang ngoại giao với với họ, không những được cơm no rượu say mà còn có “bò cưỡi”[1] đều đều nữa. Cứ vài tuần lại thay một cô. Gái Tây, gái Tàu khác hẳn gái ta, cậu ạ. Đến bây giờ, thỉnh thoảng tớ đi ị, cúi đầu nhìn cái con giống của tớ, tớ lại nhớ đến cái khoản vĩ đại của cô này, cô kia bên trời Tây góc Tàu. Nhớ đến mức tớ muốn ị muốn đái mà cũng không được”.

Đảng trưởng Hò Văn Đản suýt xoa, giọng rất hào sảng:
“Cha, cha. Trắng lốp. Đen xì. Thơm thơm như mùi táo Tây chín. Không giống như mấy đồng bào gái nhà quê nước Mynga ta đâu, chỉ toàn các cô: “Mồ hôi dầu, uống nước chè tàu bằng lá ổi[2]. Các đồng chí ở bên đó tiếp tớ như tiếp thượng khách. Họ mời tớ ăn nghỉ ở khách sạn. Ăn có người nấu, uống có người pha, bưng bê đến tận mồm. Quần áo thay ra, có ngay người đến lấy giặt. Còn tiền? Các đồng chí bên ấy cho chi tiêu rất thoải mái”. Bỗng nhiên đảng trưởng Hò Văn Đản nhăn nhăn cái mặt, giọng cao hẳn lên, hồ hồ hí hí: “Cậu có biết nỉ hảo, a-le boa, đờ- rát- xì- tờ- vui- che là cái gì không?”. Nói rồi, Hò Văn Đản đắc trí đưa tay vỗ bồm bộp vào cái chai đựng nước thải, mắt ngước lên nhìn tôi như thách thức.

Cháu thì: “Dạ, thưa cụ, cháu không biết ạ”.

“Tớ không lạ hỉ, lạ nhỉ với cậu nữa”. Đảng trưởng Hò Văn Đản tiếp tục trong cơn hứng chí. “Tớ kết luận luôn, cậu đếch biết là phải. Năm, sáu mươi tuổi đời mà chân chưa bước qua luỹ tre làng, mắt chưa rời khỏi đít con trâu, vẫn cứ là anh nhà quê một cục. Cách mạng, đổi mới hay không cũng thế mà thôi! Nỉ hảo là tiếng mẹ Quốc Cộng, Bông – dua là tiếng Pháp, kẻ thù. He – lo là tiếng Anh, đế quốc. Đờ-rát-xì-tờ-vui-che (zdravxtvuiche) là tiếng cha Xô Liên. Sống với người ta, mình văn minh lịch sự là phải giao tiếp trò chuyện với người ta bằng tiếng nói của người ta. Tiếp chuyện người nước của nước nào thì mình nói bằng bằng ngôn ngữ của nước đó. Tớ biết có đến mấy chục ngoại ngữ là vì tớ phải trò chuyện với nhiều dân tộc người trên thế giới. Nỉ hảo là gì? Là tốt, tốt, cảm ơn. A-le là gì? Là nhanh nhanh, tiền boa nhanh. Cậu hiểu chưa? Đi với các em, ôm một tý, hôn một tý, lịch sự là phải nỉ hảo, he- lo, đờ-rát-xì-tờ-vui-che, a-le boa ngay”.

“Cụ Đản dại gái”, tôi buột miệng kêu lên thành lời. Văn hóa nước Mynga ta, phàm là đàn ông đem tiền cho gái đều bị coi là đàn ông hèn, thiếu nhân cách.

Nhưng đảng trưởng Hò Văn Đản lại vui vẻ thừa nhận:
“Chứ lị. Mô, tê, răng, rứa hay đâu, thế nào, cái gì, mi, choa, anh, tôi, đụ, địt, đéo”[3] cũng thế cả thôi”. Hò Văn Đản nhay nháy con mắt, tâm đắc: “Ở bên đó, tớ oách lắm! Anh em đồng chí quý tớ như vàng. Đi đâu có xe đưa, xe đón. Đi là cứ đi bằng đít. Gái theo tớ cứ là gạt đi không hết”. Hứng chí, Hò Văn Đản văn vẹo cái lưng. Ở bên ấy, lãnh đạo được quan tâm đặc biệt, ăn chơi thoải mái. Vì cả xã hội đều đồng tâm một ý thức, lãnh đạo ăn nhiều thì thân xác được bồi bổ nhiều, sức càng khoẻ ra; sức càng khoẻ ra thì phục vụ cách mạng càng được nhiều. Còn chơi nhiều thì được bồi bổ ở cái tinh thần. Tinh thần sảng khoái, làm việc giờ nào, chất lượng cao giờ ấy. Chả có lãng phí cái con khỉ mốc gì cả”.

Thấy cụ vui, tôi cũng hào hứng hỏi thêm cụ:
“Cháu hỏi cụ. Cụ nói, cụ là em Stalin, Mao Trạch Đông. Stalin, Mao Trạch Đông tuyên bố Mỹ chỉ là con hổ giấy. Vậy sao nước Mynga ta đánh nhau với con hổ giấy mà người lại chết nhiều như thế, đất nước còn bị con hổ giấy cào bới cho tanh bành tan nát hết cả ra. Có phải là các ông bên Xô Liên, Quốc Cộng nói Mỹ chỉ là con hổ giấy, có ý lừa dân mình, xui dại dân mình. Đảng mình ngu không biết, dân mình ngu cũng không biết, cứ tưởng Mỹ là con hổ giấy thật, nên mới lao vào đánh Mỹ như thiêu thân, phải không cụ”?

Đảng trưởng Hò Văn Đản cười hồ hồ:
“Đảng ta không ngu. Đảng ta, một hòn máu đỏ nên người hôm nay. Đảng ta khởi đầu có thể là sâu bọ. Nhưng con sâu bọ đó luôn biết biến mình để phù hợp với hoàn cảnh sống nên nó thông minh, tài trí và bất tử. Cậu nên ghi vào tâm cốt ý này. Còn dân mình ngu thì đúng rồi. Ngu mới bị lừa. Ta đánh nhau với Mỹ, ta nói Mỹ chỉ là con hổ giấy cho dân chúng hăng hái đi theo. Chứ ta nói sự thật, Mỹ không phải là con hổ giấy, nó là con hổ thật, mạnh nhất thế giới, có bom nguyên tử. Bom nguyên tử, quả chỉ nhỏ bằng cái nắm cơm cũng đủ giết hàng ngàn người một lúc. Nó lại có cả vũ khí hóa học. Chỉ cần một lượng khói nhỏ như ta hun chuột phun ra, cũng đủ giết chết cả ngàn người. Nói sự thật ra như thế, dân nghe sợ vải đái ra, còn có ai hăng hái đi theo ta nữa. Chính Mao Trạch Đông cũng sợ con hổ giấy vải cả đái ra mới tự trấn an mình như thế. Chứ Quốc Cộng không sợ thì Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, sao đến bây giờ vẫn không thuộc quyền quản lý của họ”.

Tôi hỏi tiếp đảng trưởng Hò Văn Đản:
“Thưa cụ. Cụ biết Mỹ không phải là con hổ giấy mà là con hổ thật, sao cụ cứ quyết tâm đánh Mỹ?”.

Đảng trưởng Hò Văn Đản hí hí cười lên:
“Không đánh Mỹ, sao ta có huân chương Lenin, huy hiệu Mao Trạch Đông? Không đánh Mỹ, làm sao Quốc Cộng, Xô Liên tin ta là cộng sản?”.

“Ối trời ơi! Hò Văn Đản quyết tâm đánh Mỹ đến người Mynga cuối cùng, cũng cốt chỉ để nhận huân huy chương và lập công với thế giới cộng sản, Trời ạ”. Nghĩ trong lòng như vậy, nhưng miệng tôi lại như reo lên nói với đảng trưởng Hò Văn Đản:
“Cháu nhớ ra rồi, cụ vừa khoe với cháu, cụ vừa được nhà nước anh cả, anh hai quyết định tặng thưởng Huân chương Lênin, Huy hiệu Mao Trạch Đông. Thế giới chẳng có người nào cùng lúc được thưởng huân chương và huy hiệu vĩ đại như vậy đâu”.

“Đúng đấy cậu”. Đảng trưởng Hò Văn Đản nói giọng khiêm tốn. “Người đựơc cả hai như tớ, hiếm có trên thế giới lắm”.

“Trời ạ!, tôi thầm kêu lên. “Chả trách mà cụ thích trí, tủm tỉm, ngồi lâu trong nhà xí nhâm nhi cái huân chương Lenin, cái huy hiệu Mao Trạch Đông như chó đói nhâm nhi cứt ba nắng. Nó giông giống con người nào trong đời sống thực nhỉ? A, đúng rồi. Nó giống bọn lâm tặc tìm được trầm hương; bọn cuồng dâm bắt được con gái nhà lành; bọn cải cách bắt được trí phú địa hào, bọn giải phóng bắt được lính Việt Nam Cộng hòa”.

“Vâng, vâng. Cháu bỏ qua câu hỏi này. Cháu xin hỏi cụ câu cuối. Cháu giả sử rằng, chẳng may cụ tròn “hai năm mươi” [4], cả dân tộc này xót thương cụ, khóc lóc cụ như điên như dại, nước mắt tuôn ra như mưa từ trên trời đổ xuống, như nước từ dưới biển dâng lên; rồi đau khổ, rồi hò hét, rồi rên rỉ xót thương, rồi lên án kẻ nào bắt cụ đi vang động đến tận trời xanh, ầm ầm rung chuyển xuống tận Âm Phủ. Tóm lại là khóc thương cụ như lần đầu tiên và cuối cùng được khóc, được thương xót cụ còn hơn cả xót thương cha mẹ mình chết thì cụ có cho rằng dân chúng nước Mynga ta đều là một lũ ngu không?”.

“Câu hỏi của cậu quá hay”, đảng trưởng Hò Văn Đản bật lên cười hí hí, rồi ông ta nghiêm cái mặt lại: “Không phải là dân ta ngu mà là dân ta quá ngu, đại ngu. Cậu là thư ký ủy ban, cậu cứ bình tĩnh ngẫm đi. Sự thật, dân ta đã được hưởng một tí gì độc lập, ấm no, hạnh phúc như tớ đã nói đâu? Chưa được gì hết. Tớ mới chỉ đem lại đau thương và chết chóc cho dân tộc này. Tớ có phải là thằng ngu như lũ chúng nó đâu mà tớ không nhận ra sự thật đó. Lý do hỏng là do tớ chọn đường sai, tớ đã nhầm. Tớ cứ tưởng Xã nghĩa là có thật. Tớ cứ tưởng Mác-Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô địch muôn năm, nên tớ mới hăng hái đi theo, làm theo. Bây giờ thì lộ ra cả rồi, nó không phải như vậy. Tớ phí cả một đời làm cò mồi cho cái học thuyết cò hồn vớ vẩn đó. Nếu tớ được trẻ lại, có ngu mấy tớ cũng không đi theo con đường Xã nghĩa cò hồn ấy nữa. Còn như cậu nói, cả dân tộc sẽ như cùng lên đồng khóc tớ. Tớ trân trọng cảm ơn. Nhưng tớ nói riêng với cậu, dân mình khóc tớ như vậy là dân mình thuộc dạng đại ngu. Vì thật ra, tớ có phải là cha mẹ của chúng nó đâu. Mà ở Mynga ta có câu: “Khóc như khóc cha chết”, chứ có ai nói: “Khóc như khóc bác, khóc chú chết đâu”.

“Nhưng thưa cụ. Dân Mynga ta đã coi cụ vừa là bác, vừa là cha, vừa là anh thì dân có quyền nhập ba lần khóc vào một, chứ ạ?”.

“Thôi, thôi cậu ơi”, đảng trưởng Hò Văn Đản xua xua tay. “Cái thằng Đản Hữu, cũng là thằng vừa ngu vừa đểu. Hắn ám chỉ tớ là cái giống chó đấy. Chỉ có cái giống chó mới lộn sòng vừa là bác, vừa là cha, vừa là anh như thế”.

“Vâng vâng, cháu đồng tình với cụ. Cháu thấy cụ nói đúng. Vì cháu thấy cái giống chó đụ nhau lung tung lắm, cụ ạ. Trong một bầy chó, có đực có cái, chó con sinh ra không biết chó nào là cha, là bác, là chú, là anh, cụ ạ. Cháu xin hỏi cụ một câu cuối nữa. Thế cụ đã chuẩn bị hậu sự gì cho mình chưa? Cụ có muốn xây lăng như lăng cụ Lenin ở Xô Liên cho nó oách không?”.

Đảng trưởng Hò Văn Đản có vẻ bùi ngùi, giọng trầm hẳn xuống:
“Khung. Tớ đã viết trong di chúc rồi. Hỏa táng thành tro đem rải ba miền Bắc Trung Nam. Không có gì vẫn tốt hơn có gì, phải không cậu?”. Đột nhiên đảng trưởng Hò Văn Đản khe khẽ ngâm câu Kiều: “Xét mình công ít tội nhiều, Sống thừa, tôi đã, nên liều mình tôi”. Phải hóa thôi. Cậu có biết người ta mổ lợn không? Để ướp được xác, thân mình bị phanh xẻ không khác gì con lợn bị phanh xẻ trên bàn mổ. Ích chi. Mà đã bị xẻ như vậy thì xác ở một nơi, hồn ở một nẻo, đau đớn lắm, cậu ơi”. Nói rồi, đảng trưởng Hò Văn Đản ôm mặt khóc nức nở như một kẻ tội phạm sắp phải hành hình và ông ta nói trong sự sợ hải: “Thằng Đản Duẩn, thằng Đản Mười, một lũ Đản đi theo, ăn theo, không biết chúng có làm theo ý muốn của tớ không?”.

Thấy đảng trưởng Hò Văn Đản khóc thê thảm quá, tôi không còn lòng dạ nào hỏi tiếp ông ta thêm câu hỏi nào nữa.

[1] Tục ngữ Việt Nam, nguyên văn: Cơm no bò cưỡi. Ý nói được ăn no nê lại có gái hầu chơi.
[2] Tục ngữ Việt Nam.
[3] Những từ có nghĩa tương đương.
[4] Khẩu Việt Nam. Ý nói người chết.

Tin liên quan

Post Comment

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com