Xin Tri Ân hay “Mẹ Tôi, người vợ lính VNCH” Hồn Ai Trong Gió – Chu Lynh

Châu Xuân Nguyễn
xx

xxxxxxxxxxxxx

Xin Tri Ân hay “Mẹ Tôi, người vợ lính VNCH”

Tác giả Hùng Biên, một người con viết về sự hy sinh cao quý của mẹ cho chồng con thực không có bút mực nào tả hết được. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Trong mỗi chúng ta ai cũng có một người mẹ, để được yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ. Sự hy sinh cao quý của mẹ cho chồng con đã được vinh danh nhiều qua thi ca Việt Nam. Nhưng sự hy sinh của các bà mẹ, những người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thì không có bút mực nào viết ra hết. Là một người con có mẹ là vợ lính VNCH, tôi đã trải qua nhiều kinh nghiệm về sự hy sinh của mẹ tôi và nhìn thấy sự hy sinh của các bà mẹ, của các bạn đồng cảnh. Với lòng thương yêu và trân quý sự hy sinh của mẹ, tôi đã ôm ấp trong lòng một bài viết về mẹ từ lâu. Sau khi ba tôi mất, nhìn thấy nỗi cô đơn và thương nhớ của mẹ đã thôi thúc tôi phải viết bài về mẹ. Bài viết này chỉ là câu chuyện nhỏ trong vô số những câu chuyện về các mẹ, vợ lính VNCH. Xin được dùng bài viết như một món quà gởi đến mẹ tôi trong ngày lễ Hiền Mẫu (Mother Day) của năm 2014. Xin cám ơn mẹ cho tất cả những gì mẹ đã đem lại cho ba và anh em tụi con. Qua bài viết này, tôi xin gởi một thông điệp đến các em tôi, các bạn tôi và các thế trẻ về hình ảnh của một người mẹ trong vô số những người mẹ, vợ lính VNCH, đã hy sinh cả cuộc đời cho chồng con. Cuộc đời của mẹ tôi đã gắn liền với thời chinh chiến ly loạn của dân tộc Việt Nam.

Xin Tri Ân hay “Mẹ Tôi, người vợ lính VNCH”
Tác giả Hùng Biên-Kiều Loan và Đoàn Trọng Hiếu thực hiện Audio Đơn Vị Cũ Chiến Trường Xưa

Mẹ sinh ra tại làng Tân Phú Thượng, quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An) vào năm 1945. Theo lời bà ngoại tôi kể, ngôi làng nằm ngoài vùng kiểm soát của thực dân Pháp và trong vùng mà Việt Minh Cộng Sản (VMCS) hàng đêm đến cướp bóc. Quân Pháp thường xuyên mở các cuộc hành quân bố ráp, đốt nhà, và tàn phá mọi thứ. Ba, Mẹ, Tôi (Biên) và em gái kế (Thùy).
Mỗi lần như thế, ông bà ngoại phải dẫn mẹ và các dì chạy trốn trong lằn tên lửa đạn. Người dân trong làng bám đất không vì yêu thích Cộng Sản (CS), mà vì là nơi chôn nhau cắt rốn và đất đai mồ mả ông bà bao đời để lại. Nhiều người đã bỏ làng, trốn ra ngoài vùng Pháp kiểm soát, thì bị VMCS ban đêm tìm bắt, giết và treo cổ ở đầu làng để răn đe thị chúng. VMCS sợ dân bỏ làng đi hết thì bọn chúng sẽ đói vì không còn gì để cướp. Không thể sống trong cảnh bất an, ông bà ngoại tôi đã dẫn gia đình chạy trốn, đi thật xa, và lên lập nghiệp tại vùng Gia Định, thành đô.
Mẹ tôi đã trưởng thành trong nền giáo dục nhân bản của Miền Nam Việt Nam (MNVN). Sau khi hoàn tất trung học, mẹ đã vào làm thư ký cho hãng tàu thủy xuất nhập cảng hàng hóa. Đó là công ty Khánh Phát tại Sài Gòn. Mẹ, cũng như các thanh thiếu nữ khác, đã trải qua tuổi thanh xuân đẹp đẽ của mình với những tình bạn và tình yêu chân thành. Nhưng chiến tranh khốc liệt ngày một lan tràn khắp nơi trên quê hương Miền Nam, bao lớp trai trẻ phải xếp bút nghiên, rời bỏ công sở và gạt qua những ước mơ riêng, lên đường nhập ngũ, cầm súng bảo vệ sự thanh bình và tự do của MNVN. Mẹ đã chứng kiến những cảnh chia tay của những người bạn, người yêu, và người thân. Thiếu nữ thời mẹ đã sớm trở thành những người bạn, người yêu, và người vợ của lính. Mẹ cũng thế.
Theo lời mẹ kể, vào một ngày thứ bảy của năm 1966, mẹ và người bạn gái tên Xuyến vào Tổng Y Viện Cộng Hòa thăm một người bạn đang nằm trị thương. Đến nơi, mẹ và dì Xuyến được biết là người bạn đã ra ngoài bệnh viện dạo phố. Mẹ và dì đang cất bước ra về thì cơn mưa ào xuống để níu chân mẹ và dì ở lại. Hai người chạy vô tránh mưa ở hàng hiên, bên trong là dãy phòng trị thương.
Bên trong phòng, một thương binh lên tiếng:
– Ê tụi bây, bên ngoài có hai thiếu nữ đang đứng tránh mưa kìa.
– Để tao ra mời các cô ấy vào đây nói chuyện cho vui. Một người thương binh khác lên tiếng.
Mẹ kể, một người thương binh băng bó ở cổ đã bước ra khỏi phòng trị thương, mời mẹ và dì bước vào trong phòng. Khi bước vào trong thì mẹ gặp thêm hai thương binh nữa, một người bị thương băng bó ở tay và người kia thì băng bó ở chân. Mẹ và dì đã có dịp trò chuyện vui vẻ với họ, nhưng với mẹ tôi thì nhớ nhất câu trả lời, khi bà hỏi:
– Làm sao các anh bị thương vậy?
Người sĩ quan trẻ bị thương băng ở cổ trả lời:
– Anh đi hành quân thì bị trâu chém.
Trước khi chia tay ra về, mẹ và dì đã trao đổi địa chỉ với ba thương binh, có tên là: Đường, Đăng và Quyền, để liên lạc sau này trong tình quân dân: em hậu phương anh tiền tuyến.
Nào ngờ, ngày Chủ Nhật hôm sau, một chiếc xích lô máy đậu bên ngoài nhà ông bà ngoại. Bước trên xe xuống là ba thương binh chống nạng dìu nhau. Mẹ kể, tiếng nổ inh ỏi của xe xích lô máy cộng với hình ảnh của các thương binh khoác trên người những áo trận hoa rừng đã thu hút sự chú ý của khu xóm, vốn thường ngày yên tĩnh. Sau lần gặp lại đó, mẹ thường gặp lại người chiến binh bị thương ở cổ khi ông về phép. Tình yêu của mẹ từ từ chớm nở với người lính trận này, có họ tên là Nguyễn minh Đường, sĩ quan của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, QLVNCH. Mẹ đã trở thành người yêu của lính. Ba năm sau, mẹ trở thành người vợ lính. Sau khi lập gia đình, ba mẹ tôi mua nhà ra ở tại quận 8 một thời gian. Nhưng vì ba tôi là lính tác chiến qua các binh chủng thiện chiến: Lực Lượng Đặc Biệt rồi Biệt Động Quân của QLVNCH, quanh năm hành quân ở biên thùy, một mình mẹ phải sống quạnh hiu với đàn con nhỏ, nên ba mẹ đồng ý bán căn nhà và mẹ dọn về ở với ông bà ngoại.
Như các người yêu và các người vợ lính khác, mẹ đã sống trong nỗi thấp thỏm lo âu về sự an nguy của chồng, trong niềm thương nhớ, và mong chờ cho ngày chồng về phép. Mẹ thay ba tôi, chăm sóc và nuôi dạy anh em tôi. Mẹ lặn lội lên những tiền đồn xa xôi thăm chồng và có khi mẹ dẫn tôi đi cùng. Có những lần đi thăm, mẹ phải lo âu chờ đợi trong tiền đồn, khi chồng vẫn còn đang hành quân giao tranh với quân thù. Mẹ đã hòa nhịp thở của mình với nỗi thăng trầm của cuộc chiến VN. Mẹ vui với những tin vui chiến thắng và được biết chồng bình an trở về sau một trận đánh và mẹ lo sợ khi biết chồng mình bị thương. Mẹ đã là chỗ dựa cho ba tôi trong việc quán xuyến gia đình, để ông an tâm, kìm chắc tay súng chống lại xâm lăng của CSBV. Ngoài chăm sóc gia đình, mẹ thay ba làm bổn phận người con đến song thân của hai bên.
Trong thời chiến, hạnh phúc của người vợ lính quá mong manh và nhỏ bé, nhưng sự hy sinh của người vợ lính cho chồng con và người thân thì vô cùng to lớn. Sau khi CS xâm chiếm MN, sự hy sinh đó còn tăng lên gấp bội.
Sau ngày đen tối 30-4-1975 của dân tộc VN chừng một tháng, mẹ tôi hạ sanh đứa em gái út. Khi em vừa tròn 1 tháng tuổi thì ba tôi phải ra trình diện đi tù CS. Ba đi tù, để lại cho mẹ năm đứa con thơ: 5, 4, 3, 1 tuổi và một bé sơ sinh. Trong cảnh nước mất nhà tan, gia đình ly tán, ba tôi, các bác tôi, anh họ tôi lần lượt đi tù CS, và cậu tôi tử trận trong những ngày cuối của cuộc chiến. Còn cảnh thương tâm nào hơn, già khóc và trẻ khóc cho một viễn cảnh đen tối của người dân MN, chết chóc và chia lìa. Vì quá thương con, thương cháu trong ngục tù CS, bà nội tôi lâm bệnh và mất vài tháng sau đó. Trong đám tang nội, không có người con ruột nào có mặt để đưa tang. Từ một phụ nữ chân yếu tay mềm, mẹ đã nén những đau thương, bước ra ngoài xã hội bương chải để kiếm sống cho gia đình.
Cú lừa lịch sử, việt cộng sau khi cho hạ sĩ quan, binh sĩ miền nam học tập xong 3 ngày rồi về, kế đến là sĩ quan chuẩn bị lương thực cho 10 ngày học tập cải tạo… để rồi một số vị chỉ về lại nhà sau khi học tập cải tạo 17 năm, hay nhiều người đã bỏ mình trên những nơi rừng thiêng, nước độc và không bao giờ trở về nữa.
Sau khi cưỡng chiếm MN, CSBV đã vơ vét, tịch thu tài sản và cơ sở làm ăn của người dân. Mọi công việc, hãng xưởng lớn nhỏ điều tùy thuộc vào sự ban phát của chúng. Chúng thi hành chính sách kỳ thị và phân biệt đối xử lên người dân MN, nhất là với những gia đình có dính líu đến chế độ VNCH. Mẹ tôi đã không thể xin được một công việc hãng xưởng, vì bị liệt kê có chồng là sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Mẹ đã làm nhiều công việc buôn bán như xe trái cây, xe thuốc lá, bán bánh kẹo, khoai, bán củi bó… vv và vv. Mẹ phải làm nhiều việc ngõ hầu kiếm đủ tiền lo ăn mặc và những nhu cầu học đường cho anh em chúng tôi. Có những lúc mẹ đi sớm về khua, anh em chúng tôi côi cút trong sự thiếu vắng cả cha lẫn mẹ. Có những lúc buôn bán ế ẩm, mẹ phải bán đi những vật dụng có giá trị trong nhà và ngay cả những nữ trang của mẹ để có tiền trang trải gia đình. Mẹ tần tiện từng ngày để đủ tiền mua quà gởi cho ba tôi, nơi ngục tù CS. Tuổi ấu thơ, anh em tôi quá quen thuộc với những món quà, mẹ gởi cho ba, như: mắm ruốc, muối đậu, thịt chà bông, đường, và khô.
Hình ảnh đi thăm nuôi tù 'Cải Tạo'
Hình ảnh đi thăm nuôi tù ‘Cải Tạo’

Vào một ngày của năm 1979, mẹ cho tôi biết là mẹ và tôi sẽ đi thăm ba tôi ở trại tù ngoài Bắc. Với tôi, đó là một tin vui không sau tả nổi. Mẹ phải làm nhiều hơn và phải bán đi chiếc Honda Dam hầu có đủ tiền mua vé xe lửa, mua thực phẩm để đóng quà, và làm lộ phí dọc đường. Hành trình đi thăm tù thật là gian nan, với nhiều bất trắc và nguy hiểm. Sau 3 ngày 3 đêm ngồi trên xe lửa, gần một ngày đứng trên xe đò, và gần một buổi đi bộ, mẹ với những gói quà trĩu nặng đôi tay dẫn tôi tới căn nhà trọ thăm tù, nằm chơi vơi giữa vùng đất hoang vắng với những ngọn núi cao bao quanh. Ba tôi bị nhốt tại trại tù K3, Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Qua chuyến thăm ba này, rất nhiều hình ảnh, nhiều kỷ niệm và nhiều nhận thức đã ghi lại trong tôi, một đứa bé 9 tuổi, về nỗi nhục nhằn của người tù khổ sai, về sự vất vả của vợ con thăm tù, về sự nghèo nàn lạc hậu và bần cùng của người dân miền Bắc, và về sự dối trá và dốt nát của chế độ CS. Những nhận xét ấy đã mãi theo tôi, đã làm động lực thúc đẩy tôi tìm hiểu về thể chế Quốc Gia và Cộng Sản và giúp tôi tự vươn lên sau này.Ba mẹ dự lễ tôi (đứng thứ hai từ trái) nhận học bổng Từ Thống Đốc Gary Locke (đứng thứ ba từ trái), tại thủ phủ tiểu bang Washington
Tù nhân của CSVN
Tù nhân của CSVN

Sau khi thăm ba về, mẹ tôi lại tiếp tục buôn bán và làm nhiều hơn mới có thể sống được trong xã hội mà CS chỉ biết lo cho riêng chúng ăn no, mặc ấm, bằng cách cướp bóc và đàn áp người dân, mặc kệ cho sự nghèo khó và lam lũ của người dân. Người dân thì bị thiếu ăn nhất là bị chúng bắt ăn độn khoai và bo bo. Một năm, trừ ba ngày Tết, mẹ làm đủ 362 ngày. Làm việc quá cơ cực, ngày một mẹ càng gầy hơn. Đến một hôm mẹ tôi ngã bệnh vì lao phổi, do lao lực mà ra. Dù bệnh, mẹ không nghỉ, vẫn phải tiếp tục buôn bán hàng ngày. Không biết còn có bao gia đình khác vì quá nghèo khổ, khiến con cái phải bỏ học đi làm hoặc phụ giúp buôn bán để sinh nhai? Còn mẹ tôi, dù cơ cực đến mấy, vẫn gồng gánh, tần tảo làm việc sớm hôm cho chúng tôi được cắp sách đến trường.
Ngoài việc thay chồng, nuôi dạy một đàn con nhỏ, mẹ còn phụng dưỡng ông bà ngoại và giúp đỡ anh chị em và những người thân thương của mẹ.
Anh em chúng tôi ngày một khôn lớn trong vòng tay yêu thương và chăm sóc của mẹ và thiếu vắng hình bóng của ba. Chúng tôi sớm phụ giúp mẹ trong công việc bếp núc và buôn bán. Thương mẹ, anh em chúng tôi sống cần kiệm với những gì mẹ cho, dẹp qua những khao khát mơ ước của tuổi thơ và vươn lên trong học đường. Từ buôn bán nhỏ, mẹ hùn vốn với gia đình anh họ, mở gian hàng bán quần áo may sẵn tại chợ Bà Chiểu.
Người tù 'cải tạo' may mắn trở về, tóc râu bạc trắng.
Người tù ‘cải tạo’ may mắn trở về, tóc râu bạc trắng

Sau 10 năm tù, ba tôi được thả về sum họp với gia đình. Ngày ba về là ngày ngạc nhiên và vui mừng nhất cho mẹ và anh em chúng tôi, vì là ngày gia đình tôi mòn mỏi mong chờ và không được biết trước. Từ ngày đó, anh em chúng tôi thật sự biết và sống bên cạnh tình yêu thương và dạy dỗ của ba. Mẹ đã chu tất lo cho ba mọi thứ và nhất là lo cho ba điều trị những căn bệnh hậu chứng của những năm tù CS như: phù thũng, đau bao tử, và gai xương sống. Mẹ còn an ủi và tạo điều kiện cho ba vui với gia đình, bạn tù, và người thân. Ba tôi đã phụ giúp mẹ trong việc buôn bán như đi bổ hàng từ các chợ lớn, như chợ Tân Bình hoăc chợ An Đông. Ngoài ra, ba tôi còn làm thêm việc bán lẻ và bỏ mối bia và nước ngọt đến các tiệm và quán ăn.
Không có sự hy sinh của mẹ, chắc tôi đã không đạt được những thành quả trong học vấn. Năm 1988, tôi thi đậu vào khoa cơ khí, Đại Học Bách Khoa Sài Gòn, trong tổng số 140 thí sinh đậu “chính quy” (hệ A) bên cạnh 310 thí sinh đậu hệ mở rộng (hệ B, phải đóng học phí). Khi nhập học, tôi mới biết là số sinh viên có cha là cựu tù CS như tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong hệ thống thi cử vào đại học (ĐH) của chế độ CS, chúng tôi bị phân loại vào nhóm 4, nhóm chót, nhóm cho những gia đình có dính líu đến chế độ VNCH, có cha mẹ đang bị tù chính trị, hoặc người thân vượt biên. Vì thế, chúng tôi phải đậu điểm thật cao và chỉ được nhận đậu với con số nhỏ, tượng trưng.
CS nhận chúng tôi vào ĐH cũng nằm trong mưu đồ chiến lược của họ, nhằm chứng tỏ với thế giới bên ngoài là họ có thay đổi trong chiều hướng mở cửa kinh tế, để qua đó, họ đón nhận trợ cấp và đầu tư từ các nước, nhất là các nước tư bản giàu có, mà chế độ CS luôn tuyên truyền chê bai. Việc thi đậu ĐH của chúng tôi đã ít nhiều đem lại niềm vui và hãnh diện cho ba mẹ, cho thế hệ chúng tôi, thế hệ con em của chế độ VNCH. Chúng tôi đã đạt những điểm cao và xếp hạng cao sau các kỳ thi ở ĐH, cho dù tình trạng lộ đề cho “con ông cháu cha” của CS xảy ra ở mỗi kỳ thi.
Để đỡ bớt gánh nặng cho mẹ, tôi đã đăng quảng cáo trên báo nhận dạy kèm và luyện thi ĐH qua các môn toán, lý và hoá. Tôi đã đi dạy học tại gia từ năm 1989 đến khi gia đình đi tỵ nạn CS vào năm 1995. Tôi rất vui là đã làm ra tiền phụ giúp mẹ và đã giới thiệu nhiều mối dạy học cho các bạn sinh viên đồng cảnh.
Ngày gia đình tôi rời VN đi tỵ nạn CS là ngày vui lớn vì từ ngày hôm đó gia đình tôi sẽ thoát khỏi ngục tù lớn của CS, thoát khỏi cái chủ nghĩa xã hội (vốn là chủ nghĩa cộng sản, được đổi tên hầu lường gạt những người nhẹ dạ) đầy hận thù, phân biệt giai cấp, và kỳ thị. Hơn hết, tôi mừng là ba mẹ sẽ không còn phải vất vả bương chải trong cuộc sống và anh em tôi sẽ có điều kiện thăng tiến trong xã hội mới, tự do và dân chủ.
Trong những năm dài tha phương nơi đất khách, mẹ vẫn luôn là chỗ dựa chính cho ba và anh em tôi. Ngoài việc quán xuyến gia đình, mẹ luôn đi bên cạnh ba tôi trong các sinh hoạt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia (CĐNVQG). Mẹ song hành với ba trong các buổi tiệc vui cưới hỏi, các buổi họp mặt hội đoàn và đồng hương, các buổi lễ tưởng niệm của VNCH và các Đại Hội Biệt Động Quân hàng năm. Mẹ góp phần công sức cho các lễ hội và tưởng niệm của các hội đoàn và CĐNVQG. Mẹ luôn ở bên cạnh chăm sóc cho ba qua những cuộc giải phẩu, luôn thương yêu và chăm lo một đàn cháu nội ngoại.
Cuộc đời của mẹ tôi là một trong vô số những cảnh đời bi thương của người mẹ, vợ lính VNCH. Đó là những cảnh đời của những người vợ lính: là góa phụ trong cuộc chiến, là vợ thương binh VNCH, hay là vợ người tù “cải tạo”. Cho dù ở cảnh đời nào, các mẹ đã son sắt thủy chung với chồng, thương yêu và chăm sóc chồng con, thay chồng tần tảo sớm hôm nuôi dạy các con và trang bị cho các con một hành trang vào đời. Không biết có bao nhiêu người mẹ đã ngã xuống trên đường đi thăm chồng trong ngục tù CS, trên đường vượt biên tìm tự do, hoặc ngay trên quê hương VN khi mòn mỏi trông chờ ngày đoàn tụ chồng về từ các trại tù CS? Thương quá các mẹ, vợ lính VNCH.
Dòng lịch sử VN sẽ sang trang, ngoài những trang sử nói lên hào khí anh dũng của cả dân tộc VN và nhất là Quân-Dân-Cán-Chính MNVN đã, đang, và sẽ còn tiếp tục đứng lên chống lại chế độ vô thần phi nhân CS, tôi tin chắc rằng sẽ có nhiều trang sử ghi đậm những nét hy sinh cao quý của các mẹ, vợ lính VNCH.

Một vài hình ảnh tiêu biểu các bà mẹ, những người vợ lính của QL -VNCH.
hncan2-550x402-450x328_zps2a6ca8aa
Bà quả phụ Nguyễn Thị Cảnh, vợ của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Link tham khảo. Hình dưới: Bà Trương Thị Sen, vợ cố trung úy phi công Nguyễn Diếu, người sau 41 năm không có tin tức của chồng, trong năm 2013 từ Việt Nam đến Mỹ để nhận lại tro cốt, hình ngày cưới Trung Úy Nguyễn Diếu 1968. Link tham khảo
ff7a567174764796a28732dc768ccf02_zpsb6a4a4c1
maithy_tronmong2_zps8d97147f
Bà Mai Thy và hồi ký của người vợ có chồng thuộc binh chủng “Người Nhái”. Link
maithy_tronmong10_zps8371c098

Sự hy sinh của mẹ tôi cũng như vô số các mẹ, vợ lính VNCH, đã là tấm gương tiêu biểu cho thế hệ chúng tôi và hậu thế noi theo, đó là sự thủy chung, sự cam chịu những bất công, vượt lên những gian truân, tần tảo làm việc, chăm lo cho chồng con và nuôi dạy con cháu nên người.
Không có sự hy sinh của mẹ, anh em tôi đã không có những gì mình có được ngày nay. Con xin đại diện các em cảm ơn mẹ.
Không có sự hy sinh của các mẹ, vợ lính VNCH, thế hệ chúng tôi sẽ không có được những thành đạt ngày nay trên đất khách quê người, đó là những kỷ sư, bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, nhà giáo, khoa học gia, chính trị gia, thương gia, nghiệp chủ… vv và vv. Nếu được, xin các bạn trẻ đồng cảnh hãy cùng tôi, nghiêng mình cảm kích và tri ân đến mẹ mình và tất cả các mẹ, vợ lính VNCH. Chúng ta hãy cùng hoài niệm về những hy sinh của mẹ, để càng yêu thương và chăm sóc mẹ trong tuổi xế chiều, bạn nhé!
Atlanta, 03/14/2014

http://www.vnews247.com/oregon/?p=1072

Hồn Ai Trong Gió – Chu Lynh

4025495074_9014905a81_z.jpgKẻ tha hương không đủ thì giờ và tâm trí trong ngày trở về để đi suốt chiều dài đất nước như ước vọng cuối đời , tìm về nơi chôn nhau cắt rốn , nhìn lại ngôi trường xưa với những giấc mộng vàng thời niên thiếu , ghé thăm núi Ngự quấn khăn tang hay nhìn dòng Hương Giang khóc sướt mướt của những ngày chiến chinh máu lửa . Nỗi tự tình về quê hương đành nén lại trong lòng , bởi ngổn ngang bao điều thúc bách . Ô hay , đau thương từ quá khứ như còn đâu đây , thoảng trên con hẻm về khuya khua đôi nạng gỗ bên túp lều không đủ che nắng trú mưa . Và hơn hết mọi nẻo đường đất nước , một mảnh đất không xa phố thị bao nhiêu , nhưng xa hẳn thế giới đua chen , cần được những bước chân ghé thăm và những nén nhang lòng thắp lên .

Sau hơn một giờ , chiếc taxi mới thoát ra khỏi Sài Gòn . Xe đi vào xa lộ Biên Hòa , bỏ lại sau lưng một thành phố đầy khói và bụi . Hầu như mọi con đường đều chật ních xe hai bánh . Dòng xe cộ trên xa lộ vẫn thi nhau lao đi , như thể bị thúc đẩy bởi một lực vô hình phía sau . Nhà cửa ngoại ô cùng chung số phận với phố xá Sài Gòn , đua nhau mọc lên , phô trương hình dáng , khoe khoang mặt tiền tựa cô gái quê thích trang điểm , tạo nên một cảnh trí mất cân đối giữa những căn nhà lụp xụp và quán xá lấn chiếm bất cứ khoảng trống nào . Dân cư chia nhau những không gian nhỏ để tồn tại , còn lại những tòa nhà bề thế hay những căn nhà sang trọng nửa lộ diện nửa kín đáo , nhắc nhở sự xuất hiện của những chủ nhân mới . Không thể nhận ra con đường dẫn vào nghĩa trang , tôi bảo anh tài xế trẻ tắp vào một quán nước . Bà chủ quán đứng tuổi chăm chú nhìn tôi .

– Ông hỏi nghĩa trang thành phố thì bên kia đường , còn nghĩa trang quân đội cũ thì đi tới ngã ba đằng kia .

Trước đây mỗi lần đi ngang khu vực nầy , tôi thường lái xe chậm lại để dán mắt vào kiến trúc quy mô và nghệ thuật của nghĩa trang , và khi nhìn tác phẩm Thương Tiếc , lúc nào tôi cũng thấy bức tượng người lính sống động . Người lính ngồi lặng lẽ bên đường như một nhân chứng âm thầm của cuộc chiến . Trong tư thế nuối tiếc đồng đội , anh như còn muốn nhắc nhở khách đi đường về một thế giới thầm lặng khuất sau ngọn đồi . Nhưng nay tác phẩm đầy huyền thoại đã biến mất không một dấu tích để lại . Tôi nghe nói , người cộng sản đã đổ hận thù lên cả người lính bằng đồng , một tác phẩm điêu khắc hiếm có , bằng cách đập phá bệ tượng , giật sập và kéo lê bức tượng qua nhiều nơi .

9974449155_9b46e6020c_b.jpg

Toàn cảnh đã đổi thay . Con đường dẫn vào nghĩa trang bị che khuất bởi hai dãy nhà mới cất , chỉ còn vài cây bạch đàn không biết sống sót từ ngày cũ hay ai đã trồng lên sau này . Khi chiếc xe chầm chậm đi vào con đường nhựa và bắt đầu lên dốc , thì khung cảnh quen thuộc bất ngờ hiện ra trước mắt tôi : Cổng Tam Quan và Đền Tử Sĩ.
7730208508_ce05a1b2e2_b.jpg

Tôi nói với tài xế chạy thật chậm để thích thú thu vào ống kính con đường uy nghi thẳng tắp dẫn lên ngôi đền . Từ Cổng Tam Quan , hai con đường hai bên ôm lấy ngọn đồi theo mô hình con ong mà ngày xưa nhà thiết kế đã chọn lựa . Con ong không thờ hai chúa , người lính chỉ chết cho một ngọn cờ . Hai hàng chữ hai bên cổng đã tróc sơn , nhìn thật rõ mới đọc được : Vì Nước Hy Sinh – Vì Dân Chiến Đấu . Tôi bước lên từng bậc thang phủ đầy rêu phong mà tưởng như đi giữa những cặp mắt thật xa xưa mà rất gần gũi ở quanh đây đang nhìn tôi . Tôi đang gặp lại những đồng đội của mình . Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa – Nghĩa Trang Của Những Người Lính Đã Chết Cho Quê Hương Việt Nam .

Tôi sắp bước lên những bậc thang cuối cùng để đặt chân vào Đền Tử Sĩ , ngự trên đỉnh đồi , ngày nào là nơi tôn nghiêm vị nguyên thủ quốc gia thường đến hành lễ trong các dịp lễ Chiến Sĩ Trận Vong , Lễ Vu Lan , ngày Quân Lực , ngày Quốc Khánh .
4025500204_d6d2a77701_c.jpg

8681314792_aaa0ec4cd5_b.jpg

Tôi ngẩn ngơ trước cảnh trời đất êm ả của buổi chiều lộng gió , chưa kịp đưa máy quay lên , bỗng từ trong một góc đền hai con chó nhảy ra sủa vang . Hai con chó đã báo động . Năm bảy người bật dậy khỏi nền nhà . Họ đứng hàng ngang trước mặt tôi , nhìn vào máy ảnh và máy quay phim lỉnh kỉnh trên vai tôi . Tôi nói với họ tôi từ xa đến , muốn thăm lại ngôi mộ người bạn ở nghĩa trang nầy nhưng không thể tìm ra vị trí và mong họ giúp đỡ . Toán lính cho biết toàn khu vực nghĩa trang do bộ đội quản lý , không cho phép người ngoài vào , không được chụp hình quay phim . Khu vực nầy không có mồ mả . Tôi cứ hỏi tới , làm thế nào tìm được ngôi mộ người bạn để cắm vài nén nhang . Thấy tôi tha thiết, một anh lính nói giọng Nam chỉ phần đất phía sau ngọn đồi .

– Chú vào đó , cứ hỏi khu vực mồ mả là người ta chỉ cho .

– Cám ơn cháu nhiều lắm.

Tôi chào toán lính , rồi bước nhanh xuống những bậc thang , e ngại họ có thể đổi ý tịch thu máy ảnh và máy quay phim . Tôi đến đây không có những thông tin chính xác về hiện tình nghĩa trang , ngoài những nguồn tin ít ỏi từ bạn bè . Tuy vậy toán lính đâu biết rằng tôi đã quay xong khung cảnh mặt tiền nghĩa trang , chỉ còn cảnh mấy người lính ăn mặc lếch thếch nằm ngủ la liệt trên nền xi măng là tôi chưa thu được vào ống kính .

Từ trên cao nhìn bao quát cảnh trí chung quanh ngọn đồi , tôi hiểu tại sao người cộng sản muốn xóa tan một di tích lịch sử đã in đậm dấu ấn trong lòng mọi người . Ở hải ngoại , người Việt hay tin chính quyền cộng sản sẽ giao nghĩa trang cho một công ty ngoại quốc để khai thác du lịch . Cho đến nay , chẳng hiểu vì sao họ chưa cày nát nghĩa trang như đã làm ớ các nơi khác . Chung quanh Đài Liệt Sĩ , người ta trồng bạch đàn , nhưng rừng bạch đàn không lớn nổi , sống thoi thóp giữa lớp cỏ ngập cả sườn đồi . Con đường đất nhựa chấm dứt khi chiếc xe rẻ bên trái , chuyển qua đường đất bụi lồi lõm dường như từ lâu không được sửa chữa . Bên phải là bức tường mỏng dang dở bám đầy bụi ngăn cách nghĩa trang với bên ngoài . Những xưởng làm gạch ngói kéo dài mấy trăm thước , vào lúc nầy không thấy cảnh hoạt động tấp nập . Chiếc xe lướt qua một bức tượng Phật Bà bên phải . Thấy một quán nhỏ bên đường , tôi ngừng lại hỏi . Tôi gặp ngay anh trưởng toán bảo vệ nghĩa trang . Anh ta hỏi tôi tên họ thân nhân , mất năm nào để dễ tìm kiếm . Tôi muốn nói , tôi đến đây không phải để thăm một người , mà thăm toàn nghĩa trang . Nhưng tôi đã có một tên người chết bịa ra lúc ngồi trên xe .
15055844394_6c2f2e5185_b.jpg
– Anh ấy tên Nguyễn Quốc Việt , chết khoảng năm 70 hay 71 gì đó .

– Nếu vậy , chú sẽ rất khó tìm . Ở đây chúng tôi quản lý trên mười ngàn ngôi mộ , người ta tìm mộ theo lô năm chết .

– Tôi hy vọng nhớ địa điểm , vì trước đây tôi có đến một lần . Anh ráng giúp tôi , người chết sẽ nhớ anh, người sống sẽ không quên ơn anh .

Anh chần chừ một lát rồi nói :

– Chú chờ cháu lấy xe gắn máy . Ở đây quy định xe hơi không được vào.

Tôi gặp may , nhưng không dám lộ niềm vui ra mặt . Tôi để gia đình ngồi tại quán nước , lén nhét máy ảnh vào túi jacket . Khi chiếc xe gắn máy chạy vào trung tâm nghĩa trang , tôi bảo anh dừng lại . Khuất sau những dãy nhà cửa va` xưởng gạch ngoài kia , nghĩa trang như một thế giới lạc lõng nằm trong quên lãng . Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa , sẽ trở thành Nghĩa Trang Quốc Gia như kế hoạch của chính phủ trước đây , vẫn còn đó nhưng khắp nơi đều một cảnh làm se thắt lòng người viễn xứ . Rừng bia mộ mênh mông nằm xen lẫn với cỏ cây um tùm , phân chia từng lô bởi những con đường đất . Nghĩa trang quá rộng lớn , tầm nhìn của tôi không thể thu hết toàn cảnh . Dân cư và các lò gạch đã lấn chiếm sát vòng đai nghĩa trang . Rải rác đó đây là những ụ đất , những hố sâu , những cây cao su mới trồng lẫn trong những đám cỏ đuôi chồn mọc cao . Một số ngôi mộ đã được dọn sạch sẽ , còn lại là những mồ hoang ngập trong cỏ dại không nhang không khói , có lẽ ba mươi năm nay , chưa một ai đến viếng . Đã có những con người từ tâm đến đây sửa sang , nhưng vẫn chưa làm nghĩa trang bớt hoang phế . Tôi có cảm tưởng nghĩa trang đã bị lấy đi một lớp đất , để lộ những tấm đan trồi cao trên mặt đất . Có vẻ như người ta sắp làm một cái gì trên mảnh đất nầy . Hầu hết những ống cống trên đường bị lấy đi không được lấp đất lại , tựa như dấu đùn của thú rừng ăn đêm . Nhiều tấm bia bị đập bể . Có những phần mộ bị dời khỏi vị trí . Một sự phá hoại quy mô đầy tính thù hận . Đột nhiên , đôi mắt tôi rưng rưng niềm phẫn uất .

Người cộng sản đang tìm mọi cách chiêu dụ người Việt hải ngoại về xây dựng đất nước , mời mọc đầu tư , cổ xúy hòa giải , vậy mà họ đang tiếp tục gieo rắc hận thù trên cả những kẻ đã nằm xuống . Người chết đã không được yên ổn dưới lòng đất . Nghĩa tử là nghĩa tận . Mồ mả các chiến binh cộng sản khắp nơi được sơn phết cẩn thận , mồ mả nơi đây bị dày xéo thật tàn nhẫn . Người cán binh cộng sản , người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa , họ là ai ? Tất thảy họ là những người con dân Việt bất hạnh , là nạn nhân của một chủ thuyết điên cuồng , phải được chia sẻ từng mảnh đất chôn cất , chia sẻ từng nén nhang và cả lời nguyện cầu được bình an dưới lòng đất hay thanh thản nơi một thế giới nào đó không binh đao và oán thù .

Làm thế nào tìm ra lô đất chôn theo năm , nói gì tìm ra tên người thân khi lạc vào đây ? Tôi đến gần anh bảo vệ và dúi vào tay anh một số tiền :

– Anh nói đúng, có lẻ tôi cần phải đến đây ba bốn ngày liên tiếp mới mong tìm được mộ người bạn tôi . Rất tiếc , chỉ còn vài ngày nữa là tôi rời khỏi nơi nầy . Vậy anh cho tôi thắp hết bó nhang cho những ngôi mộ trong khu vực nầy . Đó là cách tôi gởi lòng thành của mình cho người bạn và luôn thể đến những người khuất mặt ở đây .

– Vâng … chú làm thế cũng được .

– Cám ơn anh đã giúp tôi tận tình . Có lẽ không bao giờ tôi có dịp đến nghĩa trang lần nữa . Mong anh cho tôi chụp vài tấm hình kỷ niệm .

– Chú đã biết rồi đó . Họ cấm chụp hình . Nhưng cháu sẽ canh chừng cho chú .

Trước khi đưa máy hình cho anh bảo vệ , tôi chụp ngay vài tấm toàn cảnh nghĩa trang , nằm dưới ngôi tháp Nghĩa Dũng Đài với Vành Khăn Tang quấn quanh xa xa . Tôi nghe anh nói , công trình ngôi tháp xây gần xong thì miền Nam mất . Tọa lạc trên một ngọn đồi , thêm mấy cần thu lôi làm tăng thêm chiều cao nổi bật trên rừng mộ bia , ngôi tháp dũng mãnh cao trên bốn mươi thước như thách thức thời gian , như đang chứng tỏ với con người sự hiện hữu của một thế giới vô hình . Kiến trúc uy nghi nầy làm tôi liên tưởng đến bao nhiêu người đã bỏ tim óc và sức lực vào việc xây dựng công trình lịch sử lớn lao nầy, để hơn ba mươi năm trôi qua, ngôi tháp vẫn còn đứng vững và tiềm tàng uy lực khó hiểu, đã làm chùng lại mọi mưu toan xóa bỏ nghĩa trang. Thấp thoáng vài bóng người trong khuôn viên ngôi tháp. Tôi ao ước được vào bên trong để nhìn công trình dang dở với thanh kiếm khổng lồ cắm xuống mặt đất và vành khăn tang rộng lớn quấn quanh ngôi tháp, nhưng không nghĩ ra cách nào, vì anh bảo vệ lắc đầu từ chối.
4025548300_683a9ed2f5_b.jpg
Trong cơn gió vi vu xô dạt hàng cây bạch đàn, tôi đến từng ngôi mộ, cắm từng nén nhang vào những tấm đan xiêu vẹo, đối diện với từng hình ảnh, tên họ, đơn vị, ngày sinh, ngày mất. Dù không còn ngay ngắn vị trí, những tấm đan vẫn còn nguyên vẹn. Anh bảo vệ có vẻ quen thuộc với máy chụp hình, bấm máy kịp thời mỗi lần tôi di chuyển qua từng ngôi mộ. Hình như anh đã thông cảm việc làm của tôi nên sau đó sẵn sàng dẫn tôi đi qua các khu vực khác. Anh cho biết, có những gia đình đã đến đưa tiền nhờ bảo vệ dọn dẹp phần mộ thân nhân của họ. Hàng năm có một số thương phế binh và cựu quân nhân sống ở các khu vực lân cận thường đến đây vào dịp Tết để tảo mộ. Còn lại những ngôi mộ khác không ai chăm sóc, ẩn sâu dưới lớp cỏ rậm, bia mộ như cố vươn lên nhắn gởi một lời ghé thăm.
4024735025_85d7dd9bc2_b.jpg

Bó nhang trong tay đã hết sạch. Anh bảo vệ cho biết các khu vực khác cũng tình trạng tương tự, nghĩa là có những ngôi mộ đã được chăm sóc xen lẫn với những ngôi mộ ngập cỏ. Tôi muốn đi xa hơn, nhưng anh ta bảo, không nên đến gần toán bộ đội đóng rải rác quanh nghĩa trang. Đành nhủ với lòng mình, dù sao tôi đã thăm lại được nghĩa trang, một việc hằng ấp ủ trước đây. Tôi lại ngồi sau chiếc xe gắn máy lao đi trên những đoạn đường bụi đỏ, chạy quanh một vòng qua các con đường bị đào xới, để ngậm ngùi thấy mọi nơi của nghĩa trang đều hoang tàn giống nhau.

Ra khỏi bức tường thành hoen ố, tôi trở lại quán nước. Tôi chưa kịp nói chuyện với gia đình về những bức ảnh vừa chụp được, thì anh tài xế nói nhỏ bên tai nên cho thêm tiền người bảo vệ để được quay phim. Tôi kéo anh bảo vệ ngồi riêng một bàn. Tôi đưa cho anh thêm một số tiền Việt và ngỏ ý muốn trở lại quay vài đoạn phim. Anh ta không phản đối nhưng khuyến cáo không nên đi quá xa khu vực ấn định. Uống chưa xong ly nước, chúng tôi trở lại nghĩa trang.
4024782035_e5778669e6_b.jpg
Chiều xuống, nghĩa trang không một bóng người, chỉ nghe tiếng chim kêu áo não trên một cành cây gần đó và tiếng đa đa khàn khàn từ những lùm cây trên sườn đồi khiến cảnh chiều thêm quạnh hiu. Xa xa, một làn khói xám xịt lên cao từ một lò gạch, uốn éo theo chiều gió, ngập ngừng không biết tan về đâu. Những bia mộ như hớn hở đi vào ống kính, cả cỏ dại cũng lắc lư nhảy múa hưởng ứng công việc của tôi. Tôi cẩn thận thu cận cảnh vài tấm bia. Khi quay ống kính về phía ngôi tháp Nghĩa Dũng Đài sừng sững trước mặt, tôi thực sự xúc động, cảm thấy mọi thứ trong nghĩa trang đều sống động như đang đồng cảm với tôi về cuộc viếng thăm bất ngờ nầy. Nhìn rõ những hình ảnh trên màn hình, tôi bỗng rùng mình. Nghĩa trang đang thở từ lòng đất. Từng tấm bia lướt qua trong máy đang gởi lời chào thân ái. Tôi tin những cặp mắt vô hình đang đồng loạt nhìn tôi. Phải chăng đây là khoảnh khắc giao cảm hiếm có với những người lính vô danh ngày xưa đã hy sinh mạng sống của mình, ngày nay họ đã trở thành những vị anh hùng trong lòng dân tộc.

Đâu đây như có tiếng chân đều nhịp của những tháng ngày thao trường đổ mồ hôi để chiến trường bớt đổ máu. Chúng ta đang sống lại trong hàng ngũ ? Những ngày xưa thân ái , anh đã gởi lại nơi đây. Anh về qua xóm nhỏ , tình quê hương đậm đà. Anh về thủ đô , lòng em rộn rã . Những địa danh bỗng hiện ra, những trận đánh như còn sôi động đâu đây. Máu ai nhuộm thấm ngọn đồi chiến lược? Bàn tay nào giương cao lá cờ tung bay trên cổ thành Quảng Trị ? Anh đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ mảnh đất miền Nam. Thế rồi anh ngã xuống, thế rồi tôi buông súng. Anh cô đơn nơi hoang địa, tôi lầm lũi cảnh tha hương.
40254215321_8d71ac25f3_b.jpg
Bao nhiêu năm chiến tranh, chỉ có một ngày đáng nhớ. Chỉ có một ngày đáng nhớ, nhưng không thể viết hết thành lời. Không thể viết hết thành lời, bởi vì thảm kịch phân ly đã vượt khỏi biển khơi.

Người nằm đó không buồn lên tiếng. Những kẻ bạc mệnh đã hiến cho lịch sử những giọt máu đào quý giá. Một thế giới câm lặng nhưng lại cho ta bao điều suy nghĩ về sinh ký tử quy của con người, về tình tự dân tộc muôn thuở của quê hương. Thế mà con người lại điên cuồng sáng chế ra những chủ thuyết để sát hại ngay chính đồng bào mình. Thế giới vô sản được hô hào đoàn kết lại để chết cho một số người. Sự dối trá và tàn ác được vinh danh như một tiêu chuẩn của đạo đức. Ôi quê hương, ta không dám hồi tưởng lại quá khứ, e không còn nước mắt để khóc cho những đau thương của dân tộc. Ta không dám mơ một ngày mai rạng rỡ, khi vẫn còn những ngày hôm nay đen tối.

Kẻ nơi âm cảnh , người còn dương thế, không còn khoác chiến y, nhưng nỗi lòng về đất nước vẫn còn trong mạch sống. Mạch sống vẫn còn tuôn chảy, dù những năm tháng cuối đời có thể đếm được rồi, bởi mạch sống vẫn trung thành với quá khứ, phải lan rộng ra như một dòng nước thủy chung cho thế hệ mai ngày. Lịch sử đang phơi bày trước mắt, không cầu kỳ hay bóp méo, như dấu tích đập phá trên bia mộ cùng khắp nghĩa trang, như ngôi tháp Nghĩa Dũng Đài hùng vĩ đứng giữa trời kia, như ngôi Đền Tử Sĩ chứng nhân trên đồi cao, như bầu trời lồng lộng, như cỏ cây đang lay động theo nhịp thở của anh từ lòng đất.

Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ, nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào.

Đột nhiên, trời tối sầm lại. Giờ của hoàng hôn đã vãn. Mặt trời đã thu về những ánh tà dương lộng lẫy, để lại một vùng ánh sáng yếu ớt sau ngọn đồi. Tiếng sấm xa xa dội lại vu vơ. Những đám mây đen ùn ùn kéo tới. Mặt trời thực sự biến mất. Nhưng dấu hiệu báo cơn mưa chỉ diễn ra trong chốc lát, có lẻ mưa một nơi nào đó. Trời mây trở lại yên tĩnh, trống trải và hoang vu. Những con chim én như những nốt nhạc lẻ loi trên mấy hàng dây điện, bỗng vụt bay lên không. Chúng chao lượn vài vòng rồi rủ nhau bay về bên kia nghĩa trang, lúc nầy trông như bức tường thành ngăn cách hai thế giới. Một cõi âm đấy bí ẩn và một cõi trần u uất sắp vùi vào bóng tối của đêm đen .

Tôi rời khỏi nghĩa trang, thoảng như vừa trải qua một giấc mơ
Ngôi Đền Tử Sĩ, ngọn tháp Nghĩa Dũng Đài, Vành Khăn Tang, rừng bia mộ, những con đường đất đỏ còn đó. Nghĩa trang vẫn còn đó, dù trong hoang tàn. Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, nhưng mãi mãi vẫn sống trong tim những người Việt Nam hằng yêu thương đất nước và giống nòi.
15055844384_bb97a64197_z.jpg
Chu Lynh
Hoa Thịnh Đốn, đầu năm Giáp Thân 2004
https://noralangdu.blogspot.be/2018/02/hon-ai-trong-gio-chu-lynh.html

Post Comment

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com