ARVN: QLVNCH: Trận Bình Long

Image result for battle of an lộc
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=314944915570998&id=100011664762642

Vương Thơ Nguyễn Trần

22 hrs ·

Trận Bình Long

Lược trình về Lữ đoàn 1 Nhảy Dù:
Là một trong ba lữ đoàn của Sư đoàn Nhảy Dù, một trong hai sư đoàn tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lữ đoàn 1 Nhảy Dù nguyên là chiến đoàn 1 Nhảy Dù, được cải danh kể từ 1 tháng 11/1967. Trong trận chiến Hạ Lào tháng 2/1971, lữ đoàn 1 Nhảy Dù là một trong những nỗ lực chính tấn công các đơn vị chủ lực của CSBV. Khi cuộc chiến mùa hè bùng nổ, lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã có mặt tại chiến trường Bình Long ngay từ giai đoạn đầu, đến hạ tuần tháng 6/1972, lữ đoàn được điều động ra tăng viện cho chiến trường Trị Thiên. Cùng với hai lữ đoàn 2 và 3, lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã tung lực lượng truy kích các đơn vị thuộc sư đoàn 304 CSBV, án ngữ phía Tây tỉnh Quảng Trị, đánh bật CQ ra khỏi khu vực núi Tân Téo (phía Tây Bắc La Vang) mở rộng khu vực kiểm soát đến tận bờ Nam sông Thạch Hãn.
* Từ cuộc họp tại Dinh Độc Lập đến kế hoạch đổ quân xuống An Lộc:
Ngày 6 tháng 4/1972, trong cuộc họp thẩm định tình hình quân sự bốn Quân khu được tổ chức tại Dinh Độc Lập dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trung tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân đoàn 3 & Quân khu, đã khẩn trình Tổng thống và đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, tăng cường thêm lực lượng phòng thủ An Lộc. Yêu cầu của tướng Minh gặp khó khăn vì phần lớn lực lượng tổng trừ bị đã được điều động tăng viện cho chiến trường Cao nguyên thuộc Quân khu 2 và chiến trường Quảng Trị thuộc Quân khu 1. Duyệt xét lực lượng hiện hữu, Tổng thống Thiệu và đại tướng Viên quyết định tăng cường cho Quân đoàn 3 một sư đoàn Bộ binh và 1 lữ doàn Nhảy Dù: Đó là Sư đoàn 21 Bộ binh thuộc Quân đoàn 4 và Lữ đoàn 1 Nhảy Dù-lữ đoàn còn lại cuối cùng của Sư đoàn Nhảy Dù đang đặt trong tình trạng ứng chiến.
Ngay trong ngày 6 tháng 4/1972, bộ chỉ huy lữ đoàn 1 Nhảy Dù và 3 tiểu đoàn thống thuộc: 5, 6 và 8 được vận chuyển lên Lai Khê, bản doanh của Sư đoàn 5 Bộ binh, thuộc địa phận tỉnh Bình Dương. Ngày 7 tháng 4/1972, toàn lữ đoàn khởi động cuộc hành quân bằng đường bộ từ Lai Khê lên Chơn Thành-quận cực Nam tỉnh Bình Long. Nhiệm vụ của lữ đoàn 1 Nhảy Dù là tảo thanh các đơn vị Cộng quân dọc theo Quốc lộ 13 từ Chơn Thành đến An Lộc. Khi qua khỏi Chơn Thành khoảng 6 km về hướng Bắc, và còn cách An Lộc 15 cây số, đoàn quân giải tỏa đã gặp sự kháng cự mạnh của 1 trung đoàn thuộc Công trường 7 CSBV ở Suối Tàu Ô. Địch quân đã lập các cụm chốt cố thủ liên hoàn bắn trả dữ dội vào các đơn vị Nhảy Dù.
* Cuộc đổ quân xuống phía Đông Nam An Lộc:
Ngày 14 tháng 4/1972, tại căn cứ Lai Khê, trung tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân đoàn 3, đã họp cùng với trung tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, và đại tá Lê Quang Lưỡng, lữ đoàn trưởng 1 Nhảy Dù. Tại buổi họp này, trung tướng Minh đã nhận định tình hình trận chiến An Lộc. Theo tướng Minh, An Lộc đang bị Cộng quân siết chặt vòng vây, lực lượng trú phòng không tung ra ngoài được để hoạt động. Số quân sĩ thương vong vì bị pháo kích ngày càng gia tăng, trong tình thế đó, cần phải lập một đầu cầu vào An Lộc, để nới rộng tầm hoạt động của quân trú phòng. Các mặt ở hướng Bắc, Tây, Nam đều bị phong tỏa. Chỉ còn mặt Đông Nam chưa bị địch quân khống chế, ở đây có những ngồi đồi thoai thoải, thuận tiện cho cuộc đổ quân trực thăng vận, và lực lượng nhận lãnh trách nhiệm khó khăn và nguy hiểm này là lữ đoàn 1 Nhảy Dù.
Sau cuộc họp, đại tá Lê Quang Lưỡng bay quan sát vị trí trận địa để chọn bãi đổ quân. Sau 5 vòng bay, vị lữ đoàn trưởng lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã chọn ấp Srok Ton Cui, cách An Lộc 4 km về phía Đông, để các đơn vị đổ bộ. Theo kế hoạch, tiểu đoàn 6 Nhảy Dù được thả xuống trước để khai quang bãi đáp. Ngày hôm sau, 15 tháng 4/1972, hai tiểu đoàn 5 và 8 Nhảy Dù và bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Nhảy Dù trực thăng vận xuống khu vực này. Sau khi đã hoàn tất cuộc đổ quân, hai tiểu đoàn 5 và 8 Nhảy Dù chia làm 2 cánh tiến quân vào thị xã An Lộc, trong khi đó, tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại làm lực lượng đoạn hậu và án ngữ Đồi Gió.
Tiếp tục kế hoạch điều quân, đại tá Lê Quang Lưỡng, lữ đoàn trưởng, cho lệnh tiểu đoàn 8 Nhảy Dù bung ra lục soát về phía Tây thị xã An Lộc. Trên đường tiến quân, do bị Cộng quân pháo kích dữ dội nên tiểu đoàn đã chuyển về hướng Nam, cùng lúc đó, tiểu đoàn 5 Nhảy Dù cũng nhận được lệnh ra tiếp ứng để mở rộng vòng đai, nhằm lập bãi nhận hàng tiếp tế do phi cơ thả dù.
Ngày 19 tháng 4/1972, Cộng quân điều động 2 trung đoàn 141 và 275 CSBV tấn công cường tập vào bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tại đồi 169 và tiểu đoàn 6 Nhảy Dù tại đồi Gió. Trước áp lực quá nặng của địch, đại tá Lê Quang Lưỡng gọi máy cho trung tá Nguyễn Văn Đĩnh được toàn quyền quyết định. Trung tá Đĩnh cùng với 2 đại đội 60, 62 di chuyển theo ngọn đồi xuống ấp Srok Ton Cui, nơi đây đại đội 61 đang hoạt động; 2 đại đội 63 và 64 còn lại do thiếu tá Phạm Kim Bằng chỉ huy tiếp tục án ngữ cao địa. Cánh quân do trung tá Đỉnh chỉ huy bị Cộng quân chận đánh và cuối cùng phải triệt thoái về hướng Nam; sau đó được trực thăng Không quân VNCH bốc được và chở về Lai Khê chỉnh trang; cánh quân còn lại của tiểu đoàn 6 Nhảy Dù và bộ chỉ huy lữ đoàn 1 Nhảy Dù rút vào An Lộc. Riêng pháo đội 105 ly với 6 khẩu đội được lệnh phá hủy tất cả súng trước khi rút lui.
* Lữ đoàn 1 Nhảy Dù và những trận đánh lớn tại An Lộc:
Trong cuộc rút quân khỏi Đồi Gió, tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đã được Không quân yểm trợ bằng 3 phi tuần xuống các vị trí của Cộng quân quanh vòng đai của lộ trình rút quân. Rạng ngày 21 tháng 4/1972, Cộng quân pháo kích 2 ngàn quả đạn vào tuyến phòng ngự của lực lượng VNCH, trong đó có các cụm điểm trọng yếu do lữ đoàn 1 Nhảy Dù phụ trách. Tiếp đó, đêm 22 rạng ngày 23/4/1972, Cộng quân tung thêm quân tấn công vào khu vực trách nhiệm của tiểu đoàn 8 Nhảy Dù ở cửa Nam An Lộc. Cánh quân bộ binh địch tấn công vào tuyến phòng ngự của tiểu đoàn 8 Nhảy Dù có 1 chi đội chiến xa gồm 2 T 54 và 2 PT 76 yểm trợ. Lúc này quân trú phòng đã được trang bị vũ khí bắn chiến xa mới mang tên XM 202 cải biến từ M 72, có thể bắn liên tiếp 4 phát, với sức nóng 3,600 độ Fahrenheit mỗi trái. Cả 4 chiến xa đều bị chiến binh Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù bắn cháy rụi. Ngoài ra tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 Nhảy Dù còn liên lạc qua hệ thống truyền tin không lục với phi cơ C 130 có gắn đại bác 105 ly bắn theo sự hướng dẫn của ra đa hạ luôn một đội chiến xa CQ gồm 5 chiếc đang di chuyển về hướng trung đoàn 15 Bộ binh trên Quốc lộ 13.
Ngày 11 tháng 5/1972, Cộng quân tấn công cường tập vào các vị trí phòng ngự của lực lượng VNCH tại mặt Đông và Đông Bắc, vài đơn vị trú phòng báo cáo về bộ Tư lệnh Hành quân là tuyến phòng ngự có thể bị địch quân tràn ngập. Tướng Lê Văn Hưng đã điều động 1 thành phần của lữ đoàn 1 Nhảy Dù tiếp ứng. Đơn vị này có nhiệm vụ chận đứng mũi xâm nhập của đối phương. Sự tăng viên của lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã có hiệu quả ngay lập tức, Cộng quân đã không thể tiến xa được.
Trở lại với tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, như đã trình bày, sau khi rút khỏi Đồi Gió và được tập trung tại Lai Khê để tái chỉnh trang, đầu tháng 6/1972, tiểu đoàn này cùng với trung đoàn 33/Sư đoàn 21 và trung đoàn 15/Sư đoàn 9 đã khởi động cuộc hành quân giải tỏa áp lực Cộng quân trên Quốc lộ 13 để tiến về An Lộc tăng viện cho quân trú phòng. Ngày 8 tháng 6/1972, tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đã bắt tay được với tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.
* Kinh nghiệm chiến trường giữa lữ đoàn trưởng 1 Nhảy Dù và trung đoàn trưởng trung đoàn 8 Bộ binh:
Trong suốt thời gian tham chiến tại An Lộc, ba tiểu đoàn của lữ đoàn 1 Nhảy Dù đã cùng với các đơn vị Sư đoàn 5BB, Sư đoàn 21BB, Sư đoàn 9, Biệt động quân Quân khu 3, liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù nỗ lực chận đứng hơn 10 trận xung phong biển người của Cộng quân và phải hứng chịu các trận mưa pháo của đối phương. Chiến đấu trong điều kiện và hoàn cảnh khốc liệt nhất, các đơn vị Nhảy Dù đã sáng tạo cách đánh, từ cận chiến, vận động chiến đến biến chế vũ khí. Một số kinh nghiệm chiến trường đã được các đơn vị trưởng Nhảy Dù trao đổi với đơn vị trưởng bạn như câu chuyện sau đây ghi lại theo lời kể của đại tá Mạch Văn Trường, trung đoàn trưởng trung đoàn 8 Bộ binh, khi nói về lữ đoàn 1 Nhảy Dù:
Theo sự phối trí của bộ Tư lệnh mặt trận An Lộc, lữ đoàn 1 Nhảy Dù trách nhiệm mặt Nam An Lộc, còn trung đoàn 8 Bộ binh trách nhiệm phía Bắc An Lộc. Một hôm, nghe tin đại tá Mạch Văn Trường bị thương, đại tá Lưỡng đã vượt vòng đai phòng thủ đến thăm và nói với đại tá Trường: lúc này bị thương là chết rồi. Đại tá Trường kể với vị lữ đoàn trưởng Nhảy Dù về áp lực địch quá nặng ở mặt Bắc, đại tá Lưỡng đã chỉ dẫn cho đại tá Trường biến chế mìn để chặn đường tiến quân của địch. Làm theo cách của đại tá Lưỡng, vị trung đoàn trưởng trung đoàn 8 Bộ binh đã cho quân sĩ biến chế mìn theo công thức: cứ hai đầu đạn 155 ly với ngòi nổ thành một quả mìn. Chính với loại mìn biến chế này, trong các đợt tấn công kế tiếp của đối phương, quân trú phòng đã hạ nhiều chiến xa của Cộng quân.
Sưu tầm

Post Comment

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com